Humira là gì, và nó được sử dụng để làm gì?

Humira là tên thương hiệu của thuốc adalimumab. Nó nằm trong một nhóm thuốc lớn hơn được gọi là thuốc chống thấp khớp điều chỉnh bệnh (DMARD) và nằm trong một nhóm con của DMARD được gọi là “thuốc sinh học”. Thuốc sinh học là loại thuốc được tạo ra từ các thành phần của tế bào sống (hoặc sinh học). Humira là một loại thuốc kê đơn do AbbVie sản xuất. Nó không có sẵn trên quầy.

Humira hoạt động bằng cách đặc biệt ngăn chặn TNF-alpha và được FDA chấp thuận sử dụng vào năm 2002. Thuốc chẹn yếu tố hoại tử khối u (TNF) là thuốc ức chế miễn dịch (còn gọi là thuốc ức chế miễn dịch). Bằng cách ngăn chặn hoạt động của TNF – một chất gây viêm trong cơ thể – Humira có thể được sử dụng để điều trị các bệnh tự miễn dịch như viêm khớp, vảy nến thể mảng, viêm cột sống dính khớp, bệnh Crohn và viêm loét đại tràng. Humira, giống như hầu hết các DMARD, thường mất từ ​​vài tuần đến vài tháng để bắt đầu hoạt động. Nó không phải là NSAID (thuốc chống viêm không steroid) hoặc corticosteroid (steroid).

Vì sinh học chứa các thành phần phức tạp, chúng không dễ sao chép hoặc tạo ra một bản sao chính xác, chung chung. Không có lựa chọn chung nào có sẵn, FDA nhận thấy nhu cầu tồn tại của các loại thuốc tương tự và đã khuyến khích các đối thủ cạnh tranh sản xuất các lựa chọn thay thế. Một loại thuốc tương tự như sinh phẩm đã được FDA chấp thuận được gọi là thuốc “tương tự sinh học”. Hiện tại có bảy ống kính sinh học Humira được FDA chấp thuận: Hulio, Hadlima, Abrilada, Tremfya, Amjevita, Cyltezo và Hyrimoz. Mặc dù những loại biosimilars này đã được FDA chấp thuận, chúng sẽ không có sẵn ở Hoa Kỳ cho đến năm 2023, vì Humira đã được bảo hộ bằng sáng chế cho đến thời điểm đó.

Liều lượng và Cách dùng

Bệnh nhân trưởng thành, người cao tuổi:

  • Vêm khớp dạng thấp: 40 mg, 2 tuần một lần, tiếp tục dùng Methotrexate (trong đơn trị liệu: 40 mg mỗi tuần nếu kém đáp ứng);
  • Viêm khớp vảy nến, viêm cột sống cứng khớp: 40 mg, 2 tuần một lần;
  • Bệnh Crohn nặng: tuần đầu tiên: 80 mg, tuần thứ 2: 40 mg (nếu cần đáp ứng nhanh hơn, tuần đầu tiên: 160 mg (tiêm 2 hoặc 4 lần một ngày trong 2 ngày liên tiếp), tuần thứ 2: 80 mg), sau đó 40 mg 2 tuần một lần (nếu tái phát sau khi ngừng điều trị: chỉ định lại Humira, giảm đáp ứng: 40 mg mỗi tuần, không đáp ứng ở tuần thứ 4: duy trì điều trị tới tuần thứ 12); vảy nến nặng: 80 mg, tiếp theo 40 mg, 2 tuần một lần bắt đầu sau liều đầu tiên 1 tuần (điều trị quá 16 tuần nên được cân nhắc kỹ ở bệnh nhân không đáp ứng trong khoảng thời gian này).

Trẻ vị thành niên (13-17t):

  • Viêm đa khớp tự phát: 40 mg, 2 tuần một lần.

Đáp ứng lâm sàng thường đạt được trong vòng 12 tuần điều trị, tiếp tục điều trị cần được xem xét kỹ lưỡng đối với bệnh nhân không đáp ứng trong thời gian điều trị này.

Xem thêm:

Đánh giá 5*

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here